Di tích - Lịch sử

Truyền thống hiếu học và khoa bảng

17/07/2025 09:51 Số lượt xem: 83

Từ Sơn là một vùng quê nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng rực rỡ nhất của toàn vùng Kinh Bắc. Khoa bảng cũng là một trong ba truyền thống nổi bật của vùng Từ Sơn-Đông Ngàn (bên cạnh truyền thống yêu nước cách mạng và truyền thống lao động sản xuất).

         Về giáo dục, từ xưa, nhân dân Từ Sơn đã rất chú trọng đầu tư, khuyến khích con cái học hành và việc đó thể hiện từ gia đình cho đến làng xã. Hương ước của các làng đều có điều khoản quy định trách nhiệm của các gia đình và của cộng đồng đối với việc giáo dục con trẻ. Trước đây, dù chưa có trường học công, nhưng làng nào cũng có một số thầy đồ Nho đảm nhiệm công việc dạy chữ “Thánh hiền” cho trẻ em. Nhiều vị danh Nho đỗ đạt sau khi từ quan về làng lại tiếp tục mở trường dạy học theo quan niệm “tiến vi quan, thoái vi sư” (tiến thì ra làm quan, thôi làm quan thì về dạy học). Các làng đều có học điền (ruộng dành cho sự học), có văn chỉ thờ đức Khổng Tử để khuyến khích việc học hành. Thông qua con đường khoa cử, nhiều người của quê hương Từ Sơn đã đỗ đạt thành danh.

         Sách Bắc Ninh dư địa chí của Đỗ Trọng Vĩ cũng ghi nhận: “Ở phủ Từ Sơn, từ xưa Đông Ngàn là đất văn hiến hơn cả. Các xã đều có văn học. Nhưng trong đó có bảy tổng Phù Lưu, Tam Sơn, Nghĩa Lập, Mãn Xá, Dục Tú, Hội Phụ, Hạ Dương có nhiều nhất…”. Còn theo sách Thiên Nam lịch triều truyện đăng khoa của Phan Hòa Phủ cho biết, từ năm 1075 (thời Lý), đến năm 1788 (Lê Trung Hưng), xứ Kinh Bắc có 593 người đỗ đại khoa. Trong đó, phủ Từ Sơn có 282 người, riêng huyện Đông Ngàn có 138 người.

         Truyền thống khoa bảng ở Từ Sơn hình thành từ truyền thống hiếu học của các gia đình, dòng họ. Nhiều gia đình có cha con, ông cháu thi đậu liên tiếp nhau. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, người xã Phù Chẩn, dân gian gọi ông là Trạng Cháy. Ông sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học. Cha ông từng thi đậu hương cống, làm quan đến chức Tự khanh Thái Bảo. Ông mồ côi cha khi mới ba tuổi, gia đình lâm vào cảnh hàn vi. Mẹ ông là bà Từ Huệ phải bán ruộng cho con theo học. Năm 16 tuổi, Nguyễn Xuân Chính thi đỗ giải Nguyên; năm 37 tuổi thi trúng khoa hoành từ, được bổ làm Huấn đạo phủ Nghĩa Hưng. Được hai năm ông từ quan về nhà dạy học, tiếp tục đèn sách quyết lấy đại khoa. Từ khoa thi năm Bính Thìn (1616), ông dự sáu kỳ thi đều bị đánh hỏng do quan trường thành kiến. Đến khoa thi năm Đinh Sửu, thời Lê Trung Hưng (1637), Nguyễn Xuân Chính thi đình, đậu trạng nguyên, lúc này ông đã 50 tuổi. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính là người văn võ song toàn, có tài hùng biện, nhiều lần được cử giao tiếp với sứ thần Bắc triều. Ông cũng từng được giao việc cầm binh dẹp loạn, được phong làm Binh bộ tả thị lang. Ông còn được vua giao trông coi việc thi cử, dạy học cho thái tử và được thăng chức Lễ bộ tả thị lang. Ông là người ngay thẳng, trung thực, khép mình vào kỷ cương, phép nước.

         Nguyễn Công Hãng, người làng Phù Chẩn, là một công thần nổi tiếng thời hậu Lê. Năm Canh Thìn (1700), Nguyễn Công Hãng mới 21 tuổi, dự thi đình, đỗ đồng tiến sỹ. Sau đó ông được bổ nhiệm làm đốc trấn An Bang (Quảng Ninh), rồi được thăng làm Binh Bộ tả thị lang, từng làm chánh sứ sang nhà Thanh. Ông là một trung thần đã dốc nhiều công sức vì sự hưng thịnh của quốc gia. Trong lĩnh vực ngoại giao, ông là người thông minh, khôn khéo, có công lớn trong việc đấu tranh với nhà Thanh bãi bỏ lệ cống người vàng và nước giếng Cổ Loa, giữ gìn quốc thể của Đại Việt. Trong 13 năm làm tham tụng, ông đề ra những cải cách lớn về kinh tế, tài chính nhằm chấn hưng đất nước, giúp chính quyền Lê-Trịnh cải cách lễ giáo.